Site Loader
accounting

Tài Trợ Dựa Trên Khoản Phải Thu:  So Sánh Tổ Chức Tài Chính Truyền Thống và Nền Tảng Cho Vay

Việc sử dụng các hóa đơn chưa được thanh toán hoặc các khoản phải thu để lấy tiền mặt không còn là khái niệm mới mà đã tồn tại khá lâu. Thật ra, khái niệm này được cho rằng xuất phát từ thời Rome cổ đại, khi mà các đại lý của các tổ chức tài chính truyền thống quản lý việc bán hàng và giao hàng của những thương nhân và nhà sản xuất. Theo thời gian, khi nền công nghiệp và kinh tế thay đổi, vai trò của những đại lý này đã phát triển thành như ngày nay – cung cấp tiền mặt để đổi lấy các khoản phải thu của các doanh nghiệp.

Hiện nay, các tổ chức tài chính truyền thống có hai hình thức tài trợ liên quan đến các khoản phải thu. Hình thức thứ 1 – Bao thanh toán, là bán hoàn toàn các khoản phải thu đổi lấy tiền mặt. Những hóa đơn không còn thuộc quyền sở hữu của bên bán nữa mà thuộc về đơn vị bao thanh toán. Hình thức thứ 2 – Tài trợ hóa đơn, là một khoản vay dựa trên tài sản và các khoản phải thu là tài sản thế chấp. Những hóa đơn vẫn nằm trên bảng cân đối kế toán của bên bán và trong trường hợp bên bán phá sản, các chủ nợ có thể nắm quyền sở hữu.

Ở Châu Á, tài trợ các khoản phải thu thông qua các tổ chức tài chính truyền thống từ lâu được xem xét là một phương thức tài trợ vốn cho doanh nghiệp SME và các công ty thuộc nhóm Mid-cap. Tuy nhiên, kể từ cuộc suy thoái kinh tế gần nhất, các ngân hàng đã trở nên dè dặt trong việc cung cấp các dịch vụ như vậy. Những sản phẩm tài chính như vậy thường cần nhiều thao tác thủ công hơn và khiến cho ngân hàng tiêu tốn nhiều chi phí hơn so với các sản phẩm tài chính khác như những khoản vay kinh doanh có kỳ hạn truyền thống.

Vì vậy, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã phải đi tìm những phương thức tài trợ vốn thay thế. Trong thập kỉ vừa qua, nhiều nền tảng đã xuất hiện giúp thu hẹp khoảng cách này. Những nền tảng này được quản lý bởi các công ty công nghệ tài chính. Theo tờ Fintech Weekly, các công ty công nghệ tài chính hướng tới cung cấp “các dịch vụ tài chính bằng cách sử dụng phần mềm và công nghệ tiên tiến”. Họ tập trung chính vào trải nghiệm của khách hàng và khả năng tiếp cận.

Dưới đây là những điểm khác biệt giữa tài trợ các khoản phải thu của tổ chức tài chính truyền thống với những phương thức được cung cấp bởi các nền tảng công nghệ tài chính.

1. Các trở ngại tài ch ính

Các tổ chức tài chính truyền thống thực hiện tài trợ hóa đơn và bao thanh toán từ chính các bản cân đối kế toán của họ. Họ đưa ra quyết định dựa trên đánh giá tỷ lệ lời/lỗ – tương tự như việc các chủ doanh nghiệp đo lường giá trị của một khoản đầu tư bằng cách tính toán lợi nhuận tiềm năng.

Một mặt, để hạn chế rủi ro cho các ngân hàng từ việc đưa ra tín dụng quá mức, các cơ quan quản lý đã luôn đưa ra những yêu cầu về vốn để hạn chế cho vay và tài trợ vốn. Yêu cầu vốn quyết định xem mức độ thanh khoản các ngân hàng cần có để cân xứng với tài sản của họ để đảm bảo các ngân hàng vẫn có đủ vốn để tiếp tục chi trả cho các khoản rút tiền thậm chí khi đang chịu áp lực về kinh tế.

Mặc dù những yêu cầu vốn này giúp hạn chế rủi ro vỡ nợ, chúng lại làm cho các điều khoản tài trợ khắt khe và kém linh hoạt hơn. Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính giai đoạn 2007-2008, những yêu cầu này đã trở nên khắt khe hơn để giảm thiểu rủi ro hệ thống của suy thoái nền kinh tế.

Những chi phí của việc tuân theo luật chống rửa tiền (AML) và thu thập thông tin khách hàng (KYC) đã đặt áp lực lên lợi nhuận của ngân hàng. Quy trình KYC giúp các tổ chức tài chính xác minh danh tính của khách hàng tiềm năng. Chương trình AML hướng tới ngăn ngừa tội phạm tài chính, bao gồm quy trình KYC, kiểm soát và kiểm toán nội bộ và đánh giá và giám sát rủi ro.

Để đảm bảo rằng các thỏa thuận tài trợ các khoản phải thu là hoạt động kinh doanh ổn định, các ngân hàng đặt ra một số hạn chế để đảm bảo rằng họ sẽ nhận đươc một khoản lợi nhuận tối thiểu. Ví dụ, để nhận được khoản phí tối thiểu để chi trả cho chi phí của khoản vay, các ngân hàng tài trợ cho sổ bán hàng trong một khoảng thời gian nhất định.

Không giống với ngân hàng, các nền tảng cho vay có nguồn vốn đến từ các nhà đầu tư. Những nhà đầu tư này có thể là cá nhân hoặc tổ chức – tùy thuộc vào giấy phép – và có thể cung cấp nguồn vốn thông qua đầu tư trực tiếp hoặc tham gia vào một nhóm các nhà đầu tư trên nền tảng này.

Nói cách khác, các nền tảng không cấp vốn cho các thỏa thuận tài trợ các khoản phải thu trên bản cân đối kế toán của họ. Bởi vì họ chuyên về một loại công cụ tài chính, chi phí AML và KYC của họ thấp hơn và không bị đặt các yêu cầu vốn từ cơ quản quản lý do họ thường không phải tuân theo quy định của ngân hàng.

Do đó, các nền tảng có được sự linh hoạt hơn trong việc tài trợ cho sổ bán hàng. Ví dụ, họ thường cho phép bao thanh toán chọn lọc, có nghĩa là doanh nghiệp được quyền chọn các hóa đơn cụ thể để đổi lấy các khoản tài trợ, thay vì toàn bộ sổ bán hàng.

2.  Khả năng mở rộng

Quy mô của giao dịch tài trợ hóa đơn từ các tổ chức tài chính truyền thống bị hạn chế bởi độ uy tín và tầm cỡ của bên bán. Ngân hàng sẽ tạm ứng khoản vay cho bên bán với các hóa đơn là tài sản thế chấp, vì vậy họ cần đánh giá hồ sơ rủi ro của bên bán và đặt ra hạn mức vay dựa trên sự đánh giá này.

Mặt khác, các nền tảng cho vay không chịu sự hạn chế giống như trên bởi vì bên bán không chịu rủi ro mà rủi ro nằm ở khả năng thanh toán hóa đơn của bên mua. Nền tảng và các nhà đầu tư trở thành chủ sở hữu các hóa đơn và bên mua sẽ phải thanh toán khi đáo hạn. Do đó, nền tảng cho vay sẽ tập trung nhiều hơn vào mối quan hệ thương mại và độ uy tín cùng với tầm cỡ của bên mua, gia tăng đáng kể hạn mức tiềm năng của sản phẩm tín dụng

3. Thủ tục đăng ký

Với tổ chức tài chính truyền thống, thủ tục đăng ký có thể sẽ rườm rà và phức tạp, đòi hỏi bản cứng của nhiều loại hóa đơn, chứng từ và cần xác thực nhiều lần. Hệ thống kế thừa và các thói quen kinh doanh lâu đời buột các tổ chức tài chính truyền thống và khách hàng tuân theo các thủ tục lỗi thời, chậm chạp và đôi khi còn gây khó chịu cho những khách hàng lần đầu.

Mặt khác, thủ tục đăng ký của trên các nền tảng cho vay thường được làm trực tuyến với các hóa đơn, chứng từ kỹ thuật số. Xét về sự cẩn thận khi thực hiện trên của các nền tảng và với các tổ chức truyền thống thì ngang nhau nhưng trải nghiệm của khách hàng lại được cải thiện đáng kể.

4. Thời gian xử lý

Với mức độ thận trọng của ngân hàng, cùng với những yêu cầu và quy định họ phải cần tuân theo, các ngân hàng thường mất nhiều thời gian hơn để đánh giá các đơn đăng kí. Có thể mất đến hàng tuần để đưa ra quyết định và thậm chí còn lâu hơn thế để doanh nghiệp nhận được tài trợ.

Trong khi các nền tảng lại không gặp phải vấn đề này do đăng ký được thực hiện trực tuyến, kể cả những cho những khách hàng lần đầu. Sau khi hoàn tất quy trình đăng ký và giao dịch được chấp thuận, khoản tài trợ lập tức được chuyển đi.

5. Giá cả

Có được cơ hội tiếp cận nguồn vốn lớn hơn và có nhiều nguồn lợi nhuận khác nhau, các ngân hàng đôi khi có thể cung các các mức lãi suất thấp hơn so với các nền tảng cho vay, nhưng điều này không có nghĩa là chi phí của họ rẻ hơn về tổng thể.

Mức lãi suất khác nhau giữa các nền tảo bao cho vay tùy thuộc vào quốc gia họ hoạt động và khách hàng mục tiêu. Khi cân nhắc về việc các nền tảng cho vay hiếm khi yêu cầu tài sản thế chấp và sẽ không bắt bên bán phải chiết khấu toàn bộ sổ bán hàng thì rõ rằng họ đang cung cấp một dịch vụ tài trợ vốn có lợi hơn rất nhiều so với ngân hàng. Hơn nữa, những khoản phí minh bạch hơn, không có chi phí thiết lập hoặc phí phụ, không có các khoản phí ẩn. Các nền tảng cho vay cũng có tính cạnh tranh hơn rất nhiều so với tổ chức tài chính truyền thống khi họ không hề tính các khoản phí duy trì, phí rút tiền, phí chấm dứt sớm hợp đồng.

Chọn dịch vụ tài trợ vốn cho doanh nghiệp của bạn

Khi đưa ra quyết định xem loại hình tài trợ nào phù hợp với doanh nghiệp nhất, việc xem xét kĩ lưỡng về các phương thức khác nhau, cũng như các ưu điểm và nhược điểm của chúng đóng vai trò rất quan trọng. Đồng thời, việc đánh giá chính xác tình hình hiện tại và đưa ra các ưu tiên trước mắt cũng không thể bỏ qua.

Post Author: Velotrade Research

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *