Theo một cuộc khảo sát được thực hiện bởi PwC, các CFO đang tìm kiếm những lựa chọn mới cho chuỗi cung ứng do bối cảnh kinh tế thế giới đang ngày càng trở trên không chắc chắn. Hiện nay, thuế quan đang đẩy nền kinh tế thế giới vào tình trạng trì trệ và tốc độ toàn cầu hóa trong thương mại đã chậm lại đáng kể. Nhu cầu tìm kiếm nguồn cung hàng hóa miễn thuế quan đã khiến cho nhiều doanh nghiệp rời Trung Quốc đại lục. Trong khi đó, tổng thống Mỹ Donald Trump đang đặt mục tiêu mang toàn bộ hoạt động sản xuất về Mỹ.

Vì vậy, dường như nhiệm vụ tìm kiếm nguồn cung thay thế tại các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã bắt đầu.

Một trong những đất nước được hưởng lợi ích từ điều này chính là Việt Nam. Quốc gia này đã có sự phát triển nhanh chóng về năng lực sản xuất trong những năm gần đây. Hiện nay, Việt Nam đang trên đà thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hơn nữa nhờ Hiệp định thương mại tự do mới với Liên minh châu Âu (EU).

Hiệp định về loại bỏ thuế quan giữa Việt Nam và Châu Âu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho chuỗi cung ứng

Hiệp định này sẽ đi vào liệu lực kể từ tháng 8 năm 2020. Khoảng 71% số lượng hàng xuất khẩu từ Việt Nam qua Liên minh châu Âu (EU) sẽ được miễn thuế. Tương tự với 65% lượng hàng hóa xuất khẩu của EU sang Việt Nam. Những dòng thuế còn lại sẽ dần được bỏ bởi phía Việt Nam theo lộ trình 10 năm và bởi phía EU theo lộ trình 7 năm.

Dựa theo số liệu chính thức của Việt Nam, kim ngạch thương mại với EU sẽ tăng từ 40 tỷ USD trong năm 2019 lên tới trên 60 tỷ USD vào năm 2025.

Đáp ứng các nhu cầu của thị trường châu Âu bằng những ngành sản xuất mạnh nhất của Việt Nam như may mặc, dệt may, giày dép và điện tử. Đồng thời, các sản phẩm nông nghiệp như cà phê sẽ vô cùng phù hợp với người tiêu dùng tại thị trường này.

Đổi lại, tầng lớp trung lưu tại Việt Nam sẽ chi tiêu khoản thu nhập khả dụng của mình vào các loại hàng hóa đến từ châu Âu.

Ngành dệt may và sản xuất giày dép đang vô cùng phát triển ở Việt Nam. Doanh số bán hàng vượt mức 9 tỷ USD trong năm 2018 với số lượng lớn hàng hóa được xuất sang thị trường EU. Do đó, Việt Nam có hội cải thiện ngành công nghiệp này hơn nữa thông qua việc tận dụng những lợi ích mang lại từ hiệp định thương mại với EU. Ngành sản xuất điện thoại thông minh và các thiết bị điện tử cũng là một lĩnh vực với tiềm năng phát triển nhanh chóng. Ngành công nghiệp dược phẩm có khả năng cao sẽ phát triển nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đang gia tăng trên khắp các thị trường trong khối EU.

Thông qua việc hợp tác với EU, Việt Nam đang củng cố vị thế là “công xưởng của thế giới”. Mức độ hiệu quả cao của các nhà máy tại Việt Nam đem tới sự an tâm cho các khách hàng. Việt Nam là một nguồn cung hàng hóa thay thế bên ngoài Trung Quốc đại lục.

Khả năng tiếp cận tín dụng còn hạn chế của các doanh nghiệp tại Việt nam có thể cản trở sự phát triển của chuỗi cung ứng

Việt Nam đã trở thành trung tâm sản xuất hàng hóa trong khu vực Đông Nam Á. Một vài nhà máy tại quốc gia này đã mở rộng quy mô đáng kể. Tuy vậy, các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) vẫn chiếm 98% tổng số lượng các doanh nghiệp tại Việt Nam, cung cấp 50% số lượng việc làm và đóng góp 40% tổng GDP.

Sự phụ thuộc vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) của Việt Nam có thể góp phần hạn chế tăng trưởng kinh tế do khả năng tiếp cận tín dụng còn hạn chế của các doanh nghiệp. Số liệu thống kê từ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho thấy rằng 70% các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) hiện đang không có khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng.

Thay vào đó, họ phải sử dụng vốn tự có hoặc đi vay từ những nguồn khác với mức chi phí và rủi ro cao hơn. Từ 2012 đến 2017, số lượng các khoản vay chưa trả của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) chỉ chiếm trung bình từ 22% đến 25% tính trên toàn nền kinh tế.

Một vấn đề vô cùng lớn mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) phải đối mặt chính là các ngân hàng thường “ưu ái” cho các tập đoàn lớn vay. Theo những tổ chức tài chính, những lí do chủ yếu khiến các ngân hàng không “mặn mà” với việc cấp khoản vay cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) là:

  1. Rủi ro vỡ nợ cao hơn
  2. Thiếu tính minh bạch về mặt tài chính
  3. Thiếu các tài sản đủ điều kiện làm vật thế chấp cho các khoản vay

Làm thế nào để các tập đoàn và doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam có thể tiếp cận tín dụng?

Họ có thể tìm hiểu về những nguồn tài trợ vốn khác nhau. May mắn thay, trên thị trường Việt Nam đang có rất nhiều các nguồn tài trợ tài chính thương mại thay thế. Các nhà máy nội địa có thể huy động nguồn vốn lưu động qua việc sử dụng Chiết khấu hóa đơn thông qua một nền tảng trực tuyến như Velotrade. Theo cách này, đơn vị sản xuất có thể thu về lên tới 80% giá trị trên mỗi hóa đơn trước khi tiếp tục đi vào sản xuất đơn hàng tiếp theo. Khoản tiền này sẽ giúp đơn vị sản xuất dễ dàng trang trải chi phí nguyên-vật liệu, nhân công và các chi phí hoạt động khác. Đồng thời, nó cũng sẽ giúp tránh được những khó khăn về dòng tiền thường được gây ra bởi sự chậm chễ trong việc thanh toán hóa đơn từ phía khách hàng.

Velotrade bắt đầu đi vào hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh từ 5 năm trước. Công ty đã xây dựng được một nhóm khách hàng trung thành trong cộng đồng xuất khẩu quốc tế. Hiện nay, công ty sở hữu một đội ngũ gồm 15 lập trình viên và nhân viên bán hàng xuất sắc và dày dạn kinh nghiệm. Velotrade không chỉ tài trợ hóa đơn cho những đơn vị sản xuất trong nước mà còn đã thu hút được một lượng khách hàng ổn định cho dịch vụ Tài trợ tài chính thương mại điện tử của mình.

Với xu hướng thương mại điện tử ngày càng phát triển, ngày càng nhiều đơn vị sản xuất tại Việt Nam tham gia bán hàng trực tuyến. Họ sử dụng các nền tảng thương mại điện tử như Amazon và eBay để chào bán hàng hóa cho các khách hàng ngoại quốc.

Bởi vì các dịch vụ như Amazon Prime thực hiện giao hàng trong ngày hôm sau, một số lượng lớn hàng hóa phải được giữ trong nhà kho gần với vị trí khách hàng. Do đó, đơn vị sản xuất cần phải vận chuyển hàng hóa trước cả khi khách hàng thực hiện đặt hàng, khiến nảy sinh ra những khó khăn đáng kể về dòng tiền cho những doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam.

Tại sao không tiếp cận nguồn tín dụng đến từ ngân hàng hay các tổ chức tài chính truyền thống khác? 

Các ngân hàng truyền thống không mấy hứng thú với việc tài trợ cho loại hình kinh doanh trực tuyến mới này. Chính vì vậy, Velotrade đã phát triển một mô hình tài trợ cho các lô hàng của các đơn vị sản xuất tại Việt Nam. Mô hình này bao gồm việc theo dõi mức hàng tồn kho và loại hình đơn đặt hàng. Ngoài ra, lịch sử giá và khối lượng bán hàng cũng được đưa vào phân tích. Velotrade kết nối với nền tảng thị trường thương mại điện tử để phân tích xu hướng của người tiêu dùng. Đội ngũ tại Velotrade có thể đánh giá nhu cầu của người tiêu dùng và các yêu cầu về dòng tiền cho mỗi đơn vị sản xuất. Velotrade sau đó thanh toán trước cho mỗi đơn vị để giúp tài trợ cho đơn hàng tiếp theo của họ. Do đó, không cần phải trì hoãn hoạt động sản xuất cho đến khi tất cả lượng hàng tồn kho đã được bán hết. Các khoản thanh toán từ những đơn hàng trên Amazon sẽ được chuyển trực tiếp tới Velotrade.

Sự đổi mới tài chính mà Velotrade mang tới có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hỗ trợ phát triển nền kinh tế của Việt Nam theo 2 cách:

  1. Cải thiện sự đa dạng của nguồn sản xuất hàng hóa cho các bên mua.
  2. Giải quyết các nhu cầu ngày càng tăng của mô hình kinh doanh thương mại điện tử toàn cầu.